Thoát Hán, tại sao không?

Bạn Yasoap69 viết khi đọc bài của tôi: “Nhưng rất không đồng tình với cách bác ấy tạo nên cái Ta, dấy lên lòng tự hào về Ta (I), bằng cách hạ thấp Người (Others) (khi nói về TQ và Thái). Mình nghĩ cảm xúc đó không bền”

Thưa bạn,

Mặc dù chưa hề biết bạn là ai, nhưng hãy cho tôi bày tỏ lòng thán phục đối với một người trẻ như bạn về nhận định rất mực sâu sắc và cô đọng này. Bạn đúng, đúng hoàn toàn, khi phê phán một thái độ lệch lạc như đã mô tả.

Tuy nhiên, hãy cho tôi nói thêm với bạn đôi lời mà trong bức thư viết cho con trai, tôi không thể nào nói hết…

1. Cuộc cai trị (và khai sáng) của người Tàu trên đất nước chúng ta, bắt đầu với cột đồng Mã Viện và nền nông nghiệp của Sĩ Nhiếp. Cả ngàn năm nô lệ, dù căm ghét đến cách mấy,  cũng không thể chối cãi một điều: nền văn minh của chúng ta, đã học rất nhiều điều hay ho từ gã khổng lồ phương Bắc. Điều đó, không ai có thể phủ nhận! Tôi cũng vậy!

2. Trong một tiệc cưới, tôi đã bật cười về cái thói khoa trương của người Tàu. Gà hấp hành thì gọi là “Phượng Hoàng tranh châu”, tôm càng nướng thì gọi là “Song Long quá hải”… Nghe thiệt “oải”, phải không bạn?

Nghĩ sâu hơn một chút, thói khoa trương đó, bắt nguồn từ một nền văn hóa cực kỳ ngạo mạn và rẻ rúng. Họ gọi chúng ta là lũ man di, họ tự nhận là con trời, họ bắt chúng ta phải tự hào vinh dự khi được (bị) cai trị. Lonely Planet đã không sai, khi viết người Tàu là những kẻ racist (phân biệt chủng tộc) nhất thế giới.

Văn minh Tàu thì lớn, hẳn rồi! Nhưng chưa chắc nó vĩ đại hơn văn minh Việt, xét về số lượng (tỷ lệ) hiền tài trên đất nước người đông như kiến này. Dân đông, thì người giỏi cũng nhiều, xét theo tỷ lệ thống kê đơn giản. Chứ chẳng phải vì một bộ gene thông tuệ, mang dấu ấn DNA con trời như họ vẫn tự hào.

3. Trước một nền văn minh lớn và hung hãn như thế, không tránh khỏi sự khiếp nhược, hoảng sợ, thần phục. Nhất là khi nền văn minh ấy nhảy xổ vào đất nước hiền hòa của chúng ta bằng vó ngựa viễn chinh. Đến nỗi Nguyễn Huy Thiệp phải cảm thán mà than rằng: “Văn minh Việt nam giống như cô gái đồng trinh bị gã Trung Hoa hãm hiếp, vừa căm hận, tủi nhục, nhưng cũng có phần sung sướng” (tôi chỉ nhớ ý chính, xin miễn chấp). Các bậc túc nho hồi xưa, dù đánh Tàu rất hăng, nhưng vẫn hãnh diện ngâm nga thơ Đường, sung sướng đọc vanh vách Tứ thư Ngũ kinh, là một ví dụ điển hình.

4. Chúng ta cần có sự tỉnh táo để nhìn vào những mảng tối tăm rất lớn của nền văn hóa Tàu. Cái vĩ đại của văn hóa Tàu, còn được đóng dập vào não, xuyên vào mắt con em chúng ta hàng đêm bằng vô số phim Tàu, truyện chưởng. Thế hệ Trần Quốc Toản hôm nay, đã vanh vách tán tụng vua Càn Long. Và cũng mau mắn trả lời Lý Thường Kiệt là du kích chống Mỹ (?) đấy, thưa bạn!

Đó là cái mà tôi muốn nói với con trai, khi lưu ý chúng bên cạnh sự thán phục Vạn Lý trường Thành, chúng cũng nên biết đây là nấm mồ xương máu của bao người vô tội.

Con em tôi, sẵn sàng làu thông Tam Quốc, hồ hởi thán phục những chiến công mang màu huyền thoại của Khổng Minh. Nhưng cũng chính chúng, lại hết sức lờ mờ về Ức Trai tiên sinh Nguyễn Trãi, bậc thượng trí của chúng ta và của cả nhân loại.

Khi con tôi ngưỡng mộ các bước chân nhảy múa trong lễ khai mạc thế vận Bắc Kinh, chúng cũng không được lan man về tục bó chân man rợ. Con tôi cũng chẳng nên xuýt xoa về sự cầu kỳ của trảm mã trà, tiệc sâm thử, óc khỉ sống…, mà phải nhăn mặt, ớn lạnh trước một thói quen ẩm thực dã man, như chính các chủ nhân của chúng.

Hãy chỉ cho tôi bậc danh nhân nào của Tàu, vĩ đại mà hiền hòa hơn Trúc Lâm Đệ nhất tổ Trần Nhân Tông. Kẻ thắng Nguyên Mông bằng đại trí, đại hùng tâm. Người ngồi trên đỉnh Yên Tử, quay lưng che chắn cho xã tắc, mắt dõi trông canh chừng phương Bắc. Quân Minh đốt sách đời Trần, há chẳng phải vì khiếp sợ hay sao?

Hãy chỉ cho tôi Khổng Minh Gia Cát Lượng nào vĩ đại hơn, trí dũng hơn Nguyễn Trãi, người mà cuộc đời “sáng như Sao Khuê” mà chẳng cần chút màu mè hư cấu như Tam Quốc Diễn nghĩa?

Hãy giải thích giùm tôi, từ thế kỷ 12, dân tộc nào đã có một nền đại nghị kiêu hùng và đáng yêu như Hội nghị Diên Hồng. Lẽ nào, tiếng gọi Sát Thát thuở ấy, lại là biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi?

Hệ thống giáo dục và truyền thông của chúng ta đã bỏ quên cách nhìn nhận có qui chiếu và công bằng này!

5. Tôi sẽ không ghét người Tàu, nếu họ là những người Hoa liêm chính, trong sạch với não trạng đa văn hóa, như tôi đã thấy ở Singapore.

Tôi sẽ ghét các “bạn” Tàu, nhân danh “môi hở răng lạnh” để gậm nhấm đất nước chúng ta.

Tôi kính trọng văn hóa Tàu, nhưng không vì thế mà hoa mắt khiếp nhược, hay mang nặng nỗi mặc cảm cố hữu mà Nguyễn Huy Thiệp đã kêu than.

Tôi cũng không muốn con tôi hãnh diện về nền văn hóa (rất đáng tự hào) của chúng ta bằng thói thủ dâm lịch sử u mê và cạn cợt, theo cách người ta giảng dạy ở nhà trường.

Viết thêm như thế, chắc bạn hiểu bụng tôi mà không nỡ trách?

PS. Sau khi lỡ tay delete entry này, hôm nay tôi mới phục hồi được các comment, trong đó có một lời bình của nhà văn đáng kính trọng Bùi Ngọc Tấn. Vì phục hồi bằng tay, nên thứ tự thời gian của các comment bị thay đổi, mặc dù không ảnh hưởng đến nội dung. Xin bác Bùi Ngọc Tấn và các thân hữu lượng thứ cho sự sơ xuất ngoài ý muốn này.

2 people like this post.

35 thoughts on “Thoát Hán, tại sao không?”

  1. Thiết nghĩ, chúng ta cũng cần phải nói thêm, trong thời kỳ đương đại này, có người Trung Hoa nào qua được Đặng Thái Sơn, có bước chân Trung Quốc nào lên được đỉnh cao trí tuệ như Lê Duy Loan. Người vạch ra đường bay cho phi thuyền tiệm cận hành tinh đỏ cũng là một người Việt, còn hàng hàng những ví dụ oai hung khác. Tiếc thay, những vì sao sáng chói trên bầu trời nhân loại lại không được dung nạp đúng và đủ trên mảnh đất quê Hương, có thể chỉ vì khác nhau về chính kiến với người nắm quyền trên đất Mẹ.

    Điều gì làm chúng ta không đặt lại quan điểm, để có được cái gọi là vĩ đại của văn hóa Tàu, cha ông của họ đã không tận thu bóc lột trí tuệ của tiền nhân Việt. Với chiều dài lịch sử hàng nghìn năm đô hộ, sẽ không thiếu những bậc túc nho hiền tài bị bắt sống về phương Bắc để triệt tiêu (ta) và phục vụ (họ).

    Hiện nay, có nhiều dòng tư tưởng xem xét lại kinh Dịch, kinh Lễ và cả gốc rễ của tư tưởng triết học Trung Hoa, đã được du nhập và trấn lột từ nước Việt phương Nam.

    Đồng cảm và chia sẻ với tác giả, mong lắm thay sự chuyển dịch thông tin, để thể hệ sau nhận thức rõ giá trị nhân văn giống nòi.

       0 likes

  2. Đọc bài trả lời cho thắc mắc của bạn Yasoap69 của bác cháu cũng hiểu vài phần nhưng có 1 số khúc mắc sau.
    1. Các câu hỏi trong phần 4 của bác vì kiến thức ít ỏi không trả lời được, nhưng cháu vẫn chưa chịu bác phần này đâu, vì đó là chuyện cháu không thể kiểm chứng.
    2. Hiếm khi có một bài viết hay về chuyện về hay ở của du học sinh, bản thân cháu cũng muốn về, nhưng dòng đời sô đẩy không chắc có bị xứ người quyến rũ không, nhưng ít ra cháu chắc rằng dù mình ko về thì cũng mong người khác về đóng góp.
    Vậy nên bản thân cháu (có lẽ bạn Yasoap69 cũng vậy) mong rằng giá như bài viết đó thuyết phục hơn (như những dòng về Tàu và Thái mà bạn Yasoap69 đã nhắc đến), thì có thể nó sẽ ”đả thông tư tưởng” (Menam) nhiều người hơn.
    Dù biết 1 bài viết khó thể thay đổi tư tưởng nhiều người, tóm lại vẫn là 2 chữ ”giá như”.
    3. Có ko ít cư dân gốc hoa đã sống và gắn bó với nước mình, nếu ko khéo ( ko phải về bài viết của bác) cháu sợ lại gây ra bất đồng ko cần thiết. Nước mình đã từng có kinh nghiệm xương máu với Hoa Kiều rồi.

       0 likes

  3. Không ngạc nhiên khi tâm lý chống đối, thù ghét và cả sợ Tàu đã có trong tâm thức Việt. Trong mọi câu chuyện cổ tích ta nghe từ lúc nằm nôi cho đến những bài học lịch sử còn nóng hổi, “kẻ xấu” luôn đến từ phương Bắc.
    Một nền văn hóa thâm sâu, dày dặn như Tàu phải khiến ta thán phục nhưng sự dã man của nền văn hóa đó cũng lớn không kém và cũng đáng bị khinh ghét, đề phòng. Đơn cử, chỉ có ẩm thực Tàu mới có những món ăn đậm phần giết chóc. Đó không đơn thuần là món ăn nữa mà là đem thú tính trợ hứng cho việc ăn uống, một cách khuyến khích phần “con” tung hoành bên trong con người.
    Khi mà văn hóa Tàu tràn ngập khắp nơi trên đất Việt thì rõ ràng việc hạ thấp nó và đề cao ta (với những luận chứng cụ thể) rõ ràng là cần thiết.

       0 likes

  4. Bác viết thế này đọc đến đâu thấm đến đó, sướng mắt nữa. Xin phép copy bài này để “đả thông tư tưởng” cho nhiều đồng chí

       0 likes

  5. Bac Nikonian suong nhe, duoc nha van Bui Ngoc Tan khen viet hay! bac phai phat huy di chu, may homn ray sao khong thay entry nao moi ca?

       0 likes

  6. Rất đồng ý với đoạn 3 của bạn. Hôm trước BBC cũng có bài của chuyên gia nước ngoài cảnh báo nguy cơ vụ “Hoa kiều thứ hai”.

       0 likes

  7. 20 vien gi dzay? thuoc lac ha? Sao myselfvn biet?

    Noi gion choi vay thoi, toi rat tam dac voi Dr.Nikonian. Trong luc tung gio tung phut cac phuong tien truyen thong dai chung o VN dang (vo tinh hay co y?) het suc truyen ba van hoa TQ, chung ta can phai can phai day len long tu hao ve VN.

    Toi ma lam trong Bo Chinh Tri, toi se han che chieu phim TQ tren truyen hinh VN. Cac bac o Bo Chinh Tri cu bu lu bu loa ve “Dien Bien Hoa Binh” cua cac the luc phuong tay ma quen rang “Dien Bien Hoa Binh” cua TQ dang xay ra tung phut tung gio tren cac kenh truyen hinh viet nam

       0 likes

  8. Phần kết rất hay!
    Thủ dâm (lịch sử) nhiều chắc là có hại lắm bác nhỉ?! ặc ặc!

       0 likes

  9. Cảm ơn Dr. Nikonian đã có những bài viết rất hay, rất thuyết phục. Cháu xin phép được gửi link blog của Dr. cho bạn bè

       0 likes

  10. @Footloose : hạn chế phim Trung Quốc để “đàn anh” Trung Quốc nổi giận à? Footloose mà có suy nghĩ đó thì không đời nào được làm trong Bộ chính trị đâu. Kakaka.

       0 likes

  11. to TOU:
    “nhiều dòng tư tưởng xem xét lại kinh Dịch, kinh Lễ và cả gốc rễ của tư tưởng triết học Trung Hoa, đã được du nhập và trấn lột từ nước Việt phương Nam.”
    —–

    Những nghiên cứu kiểu này tôi thấy gượng ép lắm. Tôi chỉ tự hào với những thành tựu nó rõ ràng là của dân tộc mình thôi.

       0 likes

  12. Huhuhu, bác viết hay quá, thật là một bài đáng đọc trước khi đi ngủ => sẽ có giấc ngủ thật ngon, vừa ngủ vừa cười hài lòng mãn nguyện. Hiện giờ do cảm xúc dâng trào nên chưa còm thêm được lời khen nào nữa!

       0 likes

    1. Bạn Xuka vừa đọc bài Thoát Hán(g), vừa nghiến răng ken két, vừa cho con bú. Quả không hổ là nữ nhi đất Việt :)

         0 likes

  13. À à nhớ ra lời khen rồi! Hồi đó lúc bạn Xuka còn nhỏ, cái gì cũng đem về hỏi bố. Còn bây giờ ở xa bố quá, với lại bố cũng già yếu rồi ( nên có phần lạc hậu, hì, may là bố không xài internet, bố không đọc được đâu ), nên nếu có gì théc méc phải dzọt qua nhà bác sĩ mà hỏi ( hehe nhà mình gần nhà bác sĩ nhất trong cái blog này ). Hic hic, sao số mình con rệp quá, lúc nào mình cũng là người đi hỏi, mà thôi kệ, vậy cũng được, ráng hỏi nhiều một tý, mai mốt mình sẽ được làm người trả lời cho baby của mình, hãy đợi đấy, bé yêu!

       0 likes

  14. Vừ lăng xăng nấu cơm cho bố mẹ vừa hóng hớt trên đây ;) Đọc bài này của chú thật là khoái chí tử. Việc so sánh các nền văn hóa với nhau luôn là việc nguy hiểm và chẳng khôn ngoan (tương tự như việc chấm điểm tôn giáo nào là tốt nhất vậy). Tuy nhiên có những cái rất rõ ràng rằng chúng ta có quyền và phải học cách tự hào chính đáng về những giá trị văn hóa đẹp đẽ cũng như lịch sử kiêu hùng (trung thực!) của dân tộc và biết cách nghiêng mình kính trọng nét đẹp trong văn hóa nước bạn. Cháu rất thích câu “Văn minh Tàu thì lớn, hẳn rồi! Nhưng chưa chắc nó vĩ đại hơn văn minh Việt”. Không thể nào thỏa mãn hơn khi đọc câu này (viết tới đây nồi lẩu nó sôi ak ak). Khi tán thưởng những giá trị ngoại bang thì nên giữ cái đầu ngẩng cao, bộ óc thông tuệ và môi miệng nhã nhặn để giới thiệu cho bạn bè biết “nước tao cũng có nhiều hàng độc lắm nghen” (cái này phải học hỏi chú Dr.Niko đây :-D ). Đọc xong bài của chú tự hào điên tiết đây “Đại Ngu” muôn năm! ( hô hoán vậy thoai, cháu đi ăn lẩu đây ợ). À, nhớ hok lầm xuka ngày còn đi học có một bài văn viết về Nguyễn Trãi được 9 điểm hehehe (hặn xuka we).

       0 likes

    1. Bạn May ơi, ” đời con gái cũng cần dĩ vãng, mà Xuka chỉ còn tương lai”: Đừng nhắc đến dĩ vãng học hành nữa, bạn Xuka sợ lắm rồi, học sáng học trưa học chiều, thở không ra hơi. Ra trường rồi bạn Xuka mừng kinh lên được. Nếu phải học ở VN thì chưa chắc giờ này ta có Ngô GS đâu, nhiều khi ảnh thù đời, bỏ học, đi kinh doanh bất động sản từ lâu roài !?!

         0 likes

      1. Hahaha, thix cái còm này của chi Xuka ah. Em ngày xưa học xong cũng mừng lắm lắm luôn áh. Bây giờ đã thoát khỏi trường phổ thông được 5 năm rồi mà em vẫn còn bị ám ảnh đây, thật là kinh dị.

           0 likes

  15. Hihi, thiên hạ người ta đang rần rần hè nhau cổ vũ tinh thần hiếu học, thiếu điều chưa xuống đường mặc áo thun có chữ “Ngô Bảo Châu, hoàng tử của chúng em”. Chị em mình vào đây rủ nhau chán học, coi được hông? Ngài phó thủ tướng đến rơi nước mắt vì hai đứa mình kìa!

       0 likes

    1. Nếu cho ngài í ngồi học lại trên ghế nhà trường chắc ngài ấy có ngày ko còn nước mắt để mà rơi đâu chị àh.

         0 likes

  16. Đọc bài này của Bác hôm từ ngày đầu, nay mới cồm.
    “Thoát hán” chắc là khó thoát, ở cái thế làm ghế mà đòi “thoát hán” thì sẽ bị mối gặm nhấm từ từ, đau từ trong đau ra. Thôi thì chấp nhận phận làm ghế, nhưng phải là ghế ĐIỆN (chaise électrique) cơ, có thế mới răng đe được kẻ ác. Chắc Bác hiểu ý moa !

       0 likes

  17. Tôi nghĩ tất cả chúng ta cần tham khảo thêm bài viết này:

    Lịch sử cần sự thật
    Tác giả: Trần Kinh Nghị
    Bài đã được xuất bản.: 6 giờ trước

    TRONG MỤC NÀY (Đọc thêm)

    * Lịch sử cần sự thật
    * Mỹ suy yếu thực hay chỉ trở lại bình thường?
    * Thành quả cải cách: So sánh Trung Quốc và Việt Nam
    * Trật tự thế giới mới ra đời như thế nào?

    1.Kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trọng có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực.

    >> Lịch sử đâu phải thích bẻ cong, uốn thẳng là được!

    Hồi đầu năm nay đã rộ lên sự kiện một nữ nghiên cứu sinh người Việt tại Mỹ tên là Đào Ngọc Bích viết bài cho BBC nói rằng Việt Nam là từ Trung Quốc mà ra(!) để rồi ngay sau đó bị đông đảo dư luận trong và ngoài nước “đánh” cho tả tơi, rơi rụng. Không chỉ vậy, chính cô cựu sinh viên Đại học Ngoại ngữ Hà Nội này, trong nỗ tự lực bào chữa cho mình, đã “đổ tại” quá trình đào tạo môn lịch sử khi cô còn ở Việt Nam.

    Mới đây dư luận lại được một phen bức xúc nữa khi một vị giáo sư người Trung Quốc tên là Vương Hàn Lĩnh cho rằng “kể từ năm 1885 về trước Việt Nam là thuộc quốc của Trung Quốc”.

    Thực ra không phải chỉ một mình cô Bích hay ông Lĩnh mà còn khá đông đảo người Việt Nam và Trung Quốc đều chưa hiểu đúng về lịch sử của đất nước mình, đặc biệt là lịch sử liên quan đến mối quan hệ lâu đời của hai quốc gia dân tộc “núi liền núi, sông liền sông” này. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng hiểu biết lịch sử “lệch lạc” như vậy nhưng có một nguyên nhân sâu xa nằm ở những “góc khuất” trong sử sách khi nói về nguồn cội dân tộc của mỗi nước.

    Vẫn biết, kẻ mạnh thường thắng kẻ yếu, và sự thôn tính lẫn nhau giữa các dân tộc, quốc gia vốn là một thực tế hiển nhiên trong lịch sử nhân loại, nhưng điều quan trọng có tính nguyên tắc là, mọi sự thật lịch sử cần phải được tôn trọng và giữ gìn một cách trung thực.

    Với tinh thần đó, người viết bài này xin được nêu lên một vài điều suy nghĩ lâu nay để mọi người cùng suy ngẫm nhằm tìm ra một lời giải.

    Một là, về cội nguồn dân tộc, có thể nói không chỉ truyền thuyết mà cả sử sách (của cả Trung Quốc và Việt Nam) dù có nhiều điều chưa được làm sáng tỏ hoặc chưa thỏa đáng, cũng cho thấy rằng nước Việt Nam ngày nay là một thực thể thống nhất duy nhất còn lại của Bách Việt – một tên gọi chung cho nhiều tộc người Việt đã từng định cư hàng ngàn năm trước Công nguyên trên vùng lãnh thổ rộng lớn từ bờ Nam Sông Dương Tử xuống miền Bắc Việt Nam ngày nay, phía Tây giáp Tân Cương, phía Đông giáp biển Thái Bình Dương.

    Sử sách cũng cho thấy Người Hán “nam tiến” với thế mạnh của kỵ binh nhưng đã phải mất hàng ngàn năm (quãng giữa thiên niên kỷ thứ 2 trước CN đến đầu thiên niên kỷ thứ nhất sau CN) để xâm chiếm, chinh phục và đồng hóa hầu hết các bộ tộc hoặc vương quốc có tên tuổi của người Bách Việt (xem bản đồ minh họa*). Đó là một quá trình kéo dài với biết bao biến cố lịch sử phức tạp mà trong đó có nhiều sự kiện đã bị lãng quên hoặc bị xuyên tạc, thậm chí bị “tráo đổi” tùy theo mục đích của các triều đại phong kiến thống trị trong các thời kỳ khác nhau, đặc biệt là thời nhà Hán và nhà Đường.

    Tuy nhiên có một thực tại không thể bác bỏ là, riêng Lạc Việt mặc dù bị các triều đại phong kiến Hán Hoa thay nhau thống trị từ năm 179 TCN đến 905 nhưng vẫn tồn tại và phát triển với tư cách một quốc gia dân tộc độc lập như ngày nay. Sử sách thường gọi đó là “thời kỳ 1.000 năm Bắc thuộc” mặc dù đã có rất nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ của người Việt liên tục nỗ ra trong suốt quá trình đó.

    Có thể nói, đó là quá trình lịch sử tang thương của Bách Việt nói chung, nhưng cũng là trang sử hào hùng đối với dân tộc Việt Nam nói riêng. Sự tồn tại và phát triển của Việt Nam không phải là trường hợp ngẫu nhiên mà là kết cục của cả quá trình đấu tranh sinh tồn của người Bách Việt nói chung mà các thế hệ người Việt Nam nói riêng và cội nguồn Bách Việt nói chung không bao giờ được phép lãng quên.

    Theo truyền thuyết thì nguồn gốc tổ tiên của Việt Nam bắt nguồn từ Hồ Động Đình (tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc ngày nay) bắt đầu bằng Thời đại Hồng Bàng của Kinh Dương Vương (có sách ghi cụ thể năm 2789 TCN). Thuyết này trùng khớp với các câu chuyện cổ tích về Âu Cơ-Lạc Long Quân, các Vua Hùng, mối tình Mỵ Châu-Trọng Thủy và chiếc nỏ thần v.v…

    Câu dân ca Việt cổ “Công cha như núi Thái Sơn (gần Hồ Động Đình), nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra…” cũng là một sự trùng hợp. Truyền thuyết này cũng được kiểm chứng bằng một số kết quả nghiên cứu quả khảo cổ, nhân chủng và ngôn ngữ, qua các di chỉ đồ đá, trống đồng, nghề trồng lúa nước và những khác biệt gen di tuyền v.v…

    Kết hợp cả truyền thuyết và cổ sử ta có thể nhận thấy trong suốt quá trình “Nam tiến” và “Đông tiến” của Hán tộc, các tộc người Bách Việt như Ngô Việt, Âu Việt, Dương Việt, Đông Việt, Nam Việt, Man Việt, Di Việt v.v…. đều không thoát khỏi bị thôn tính và đồng hóa…., để cuối cùng đều biến thành “người Hoa” hiện đại. Nhưng riêng Lạc Việt vẫn tồn tại, có thời kỳ bao gồm cả vùng đất Quảng Tây, Quảng Đông và Bắc Bộ ngày nay.

    Theo dòng lịch sử, ta còn thấy một thực tế là đã từng có rất nhiều người gốc Bách Việt tham gia vào bộ máy đô hộ của phong kiến Trung Hoa trong các thời kỳ khác nhau nhưng đã chọn Lạc Việt (sau là Chân Lạp, Giao Chỉ…) làm “hậu cứ” để chống lại Vương triều trung ương (như Hồ Quý Ly, Lý Bôn, Lý Bí chẳng hạn); rất nhiều người trong số họ thực sự đã tái hòa nhập vào cộng đồng Việt Nam.Cũng đã từng diễn ra những đợt rời bỏ quê hương của người Hoa gốc Bách Việt thuộc nhiều thế hệ trước đến định cư tại Việt Nam và các nước Đông Nam Á.

    Sử cận đại Trung Quốc cũng cho thấy, cho mãi đến những năm 1940 danh từ “dân tộc Việt” mới bị Tôn Trung Sơn chủ trương xóa bỏ trong bản đồ dân số Trung Quốc. Cho đến này nay để ý thấy ít nhiều vẫn còn những tình cảm kỳ thị giữa các cộng đồng gốc gác Bách Việt tại Trung Quốc với người “từ phương Bắc”.

    Bản thân người viết bài này hồi nhỏ đã có dịp học tập tại Quảng Tây nới có gần 20 triệu người dân tộc Choang (còn gọi là Tráng) vốn là họ hàng của tộc Việt, mới đây trong chuyến du lịch mấy tĩnh phía Nam Trung Quốc đã được dịp “kiểm nghiệm”điều này qua chuyện trò với một số người bản địa. Tin tức cũng cho thấy người Đài Loan gần đây đã viện dẫn đến yếu tố “người bản địa” Man Việt trong cuộc đấu tranh bảo vệ sự tồn tại độc lập với Đại lục. Nhiều thông tin, dữ liệu của các nhà nghiên cứu Bách Việt học quốc tế cũng đáng được xem xét để góp phần làm sáng tỏ hơn về nguồn gốc dân tộc và nhân văn của của Việt Nam và khu vực Đông Á và Đông Nam Á nói chung.

    Thiết nghĩ, những sử liệu và sự kiện trên đây ít nhiều tự chúng đã nói lên những sự thật khách quan xung quanh những “góc khuất” trong cổ sử và chính sử liên quan đến cội nguồn dân tộc và quan hệ giữa hai nước Việt-Trung. Khách quan mà nói đó là hướng đi tích cực cho mục đích xây dựng mối quan hệ hữu nghị bình đẳng lâu dài giữa hai nước và trong khu vực nói chung.

    Hai là, về nhân văn, tuy chỉ dựa vào các nguồn sử sách cổ để lại từ thời “1.000 năm Bắc thuộc”, ta cũng có thể thấy Việt Nam là kết tinh, là đại diện của Bách Việt. Về góc độ văn hoá, kể cả phong tục tập quán, ngôn ngữ, Việt Nam và Trung Quốc ngày nay có rất nhiều điểm tương đồng, đồng thời cũng có rất nhiều điểm khác biệt. Đặc điểm này nếu được hiểu và vận dụng một cách đúng đắn sẽ có tác dụng tích cực cho việc phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị và bình đẳng giữa hai nước, chứ không có gì là không tốt như một số người có thể nghĩ.

    Tuy nhiên trên thực tế không được như vậy vì có quá nhiều sự thật đã bị xuyên tạc, có những giá trị đã bị “tráo đổi” trong suốt quá trình lịch sử hàng ngàn năm qua mà trong đó phần lợi bao giờ cũng nghiêng về phía kẻ mạnh.

    Xin đơn cử vài ví dụ: Thế giới lâu nay vẫn tin rằng Kinh Dịch là của người Trung Quốc. Nhưng thực ra gần đây các chứng cứ khảo cổ quốc tế đã cho thấy trống đồng không phải của người Hán mà là của các dân tộc phương Nam. Kết luận này cho phép các nhà nghiên cứu suy ra rằng những hình khắc biểu tượng Kinh Dịch trên trống cũng không phải của người Hán; và do đó chủ nhân của Kinh Dịch chính là người Bách Việt, cụ thể hơn là của người Âu Việt và Lạc Việt.

    Về ngôn ngữ, đã từ lâu người Việt Nam an phận đón nhận chũ Nho (tốt đẹp) của người Hán (còn gọi là Hán Nôm). Nhưng có một số luận điểm khác cho rằng người Hán trong quá trình xâm lược đã sử dụng ngôn ngữ của người Bách Việt, cụ thể là của Ngô Việt (tại vùng Việt Châu, tỉnh Chiết Giang và Phúc Kiến ngày nay) để cải tiến thành chữ Hán, rồi thành tiếng Trung hiện đại. Lập luận này dựa trên cơ sở nghiên cứu về ngữ nghĩa, âm thanh, ngữ pháp v.v… cho thấy một tỷ lệ rất cao các nhân tố ngôn ngữ Bách Việt trong tiếng Hán cỗ và tiếng Trung ngày nay. Đó là hiện tượng các danh từ nhưng có tính từ được xếp sau danh từ được thấy phổ biến trong Kinh Thi và ngay ở tên gọi các vị Thần Nông, Đế Nghiêu, Đế Thuấn vốn được coi là truyền thuyết Trung Quốc ; từ “Việt” hiển thị với tầng số rất cao trong các tên địa danh ở miền Nam Trung Quốc; từ “giang” (sông) của tiếng Việt cổ được sử dụng cho hầu hết các con sông miền Nam Trung Quốc (trong khi ở miền Bắc gọi là “hà”); tuồng Kinh kịch ở phía Nam Trung Quốc ngày nay vẫn còn gọi là “Việt kich”, v.v…

    Thuyết này đồng thời cũng đặt ra mối nghi vấn rằng di chỉ thẻ tre có khắc chữ Hán cổ là “giả mạo” vì vào thời đó người Hán chưa có mặt ở miền đất phía Nam nơi có cây tre đủ to để làm thẻ viết. Tương tự cũng có sự “nhập nhằng” về chủ thể của “con đường tơ lụa” vì đúng ra người Bách Việt mới có thể là chủ thể của sản vật tơ lụa làm từ cây dâu tằm chỉ có ở vùng đất phương Nam. Rất nhiều luận điểm và luận cứ tượng tự cũng đã được nhiều học giả Việt Nam và quốc tế nêu ra.

    Tóm lại, dù bị người Hán cố tình đồng hóa bằng rất nhiểu thủ đoạn tinh vi và cường bạo như đốt sách, bắt từ bỏ, xóa bỏ hoặc tráo đổi v.v…, nhưng các dấu tích Bách Việt vẫn còn đó cho đến ngày nay. Trong suốt quá trình đấu tranh sinh tồn khốc liệt bên thua trận ắt chịu nhiều mất mát, nhưng những gì là bản sắc riêng vẫn còn đó; và điều này có thể nhận thấy qua nhiều nét tương đồng giữa Việt Nam với các tỉnh phía Nam và Đông Nam Trung Quốc ngày nay cũng như với các nước Đông Nam Á.

    Ba là, công tác nghiên cứu và giáo dục về lịch sử cần đi sâu hơn nữa về nguồn gốc dân tộc cùng các giá trị nhân văn trên tinh thần khách quan, dựa trên chứng cứ khoa học biện chứng lịch sử, khảo cổ, nhân chủng… (chứ không chỉ dựa vào sử sách củ để lại từ thời Bắc thuộc). Thiết nghĩ, trong việc này những kiến thức xác thực về Bách Việt sẽ giúp giải mã rất nhiều điều mà lâu nay chưa cảm thấy thỏa đáng hoặc chỉ là “ngộ nhận”.

    Công tác sử học cũng cần tập trung nghiên cứu và bổ cứu lại toàn diện, đặc biệt về lĩnh vực nguồn gốc dân tộc và nhân văn của người Việt nhằm làm sáng tỏ những kiến thức mang tính truyền thuyết kết hợp với những chứng cứ lịch sử dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu khảo cổ và gen di truyền v.v… Khi có đủ dữ liệu thì công khai chỉnh sửa những mọi sự sai lệnh hoặc bị xuyên tạc hoặc bị giả mạo trong sách sử cũ dưới bất cứ hinh thức nào, của bất cứ thời đại nào.

    Lý do là vì toàn bộ sách sử cổ của Việt Nam đều đã bị đốt và thủ tiêu trong các thời kỳ “10000 năm Bắc thuộc”; các sách sử hiện có, kể cả Đại Việt sử ký, đều là sử “chép lại” dựa chủ yếu vào các nguồn sử của các thời Hán, Đường và “hậu Hán Đường” nên không thể đảm bảo tính chính xác, trung thực và đầy đủ được; thật nguy hại nếu đã có những sự thật đã bị xuyên tạc, thậm chí đã bị tráo đổi trong đó.

    Mặc khác, cũng cần thừa nhận những khiếm khuyết trong khâu giáo dục công dân về lịch sử trong thời gian qua ở nước ta với những hậu quả “nhãn tiền” như đã được nhiều lần cảnh báo trước công luận. Thật nguy hại nếu mọi công dân đều hiểu biết sơ sài, thậm chí hiểu sai lệch về lịch sử của đất nước mình. Ví dụ khi nói mình “con rồng cháu tiên” nhưng trong lòng phân vân không biết có đúng thật không vì thấy ở Trung Quốc người ta cũng nói như vậy; không biết tại sao người Việt có các họ giống như người Trung Quốc, không biết chắc nên thiếu tự tin rằng trống đồng là bảo bối của dân tộc Việt Nam; không dám đòi quyền chủ thể của Kinh Dịch, v.v…

    Tương tự, trong lĩnh vực ngôn ngữ, sao ta không đặt mạnh vấn đề nghiên cứu xem tiếng Việt có chữ viết cổ? Lẽ nào ta dân tộc ta chỉ có chữ Hán Nôm? Có lẽ vì không biết mình là ai, nên đến ngày nay vẫn lúng túng không biết nên bảo tồn cái gì, thay thế, xoá bỏ cái gì để thực hiện “trong sáng tiếng Việt”?.Thậm chí có người cứ “vô tư” nhận mình là “con cháu” của người Trung Quốc (trong khi phía bên kia không nghĩ như vậy).

    Cũng cần xem xét lại một số khái niệm và quan niệm như cho rằng văn hóa Việt “bị ảnh hưởng” của văn hóa Trung Quốc là không hoàn toàn chính xác (mà thực chất đó chỉ là một sự giao thoa và ảnh hưởng qua lại); cách hiểu về nguồn gốc đạo Phật, Đạo Khổng, về Chữ Nho và Nho Giáo cũng có nhiều điều phải bàn thêm, v.v… Chỉ khi nào hiểu đúng về nguồn gốc dân tộc và tự tin với những giá trị nhân văn riêng, người Việt Nam ngày nay mới thực sự tìm lại chính mình và thoát khỏi nỗi mặc cảm truyền kiếp luôn thấy yếu kém và phụ thuộc các thế lực bên ngoài.

    Thay cho lời kết

    Những lập luận trên đây chỉ là ý kiến cá nhân của người viết để nhắc lại rằng dân tộc Việt Nam có cội nguồn lâu đời với những giá trị nhân văn không thua kém các dân tộc khác. Đó là một lịch sử cần được tôn trọng bằng các chứng cứ khoa học khách quan chứ không chỉ bằng truyền thuyết; ngay cả sử sách cũng phải được kiểm chứng lại bằng các kết quả nghiên cứu khoa học nghiêm túc.

    Theo hướng đó, bài viết chỉ nêu lên một thực trạng tình hình đồng thời gợi ra một số việc cần làm thêm (chứ không nhằm phê phán ai hoặc nước nào) với hy vọng góp phần đem lại sự hiểu biết đúng đắn hơn về lịch sử và cội nguồn dân tộc của Việt Nam cũng như các bên liên quan khác trong khu vực, coi đó là cơ sở để đảm bảo mối quan hệ hữu nghị, bình đẳng lâu dài giữa Việt Nam và Trung Quốc cũng như giữa các nước khu vực với nhau./.

    Tài liệu tham khảo

    - Mục Bách Việt trong Bách khoa toàn thư mở -Wikipedia, và rất nhiều tài liệu khác nhau được liên kết trong tài liệu này.

    - Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

    - Sử Trung Quốc, Nguyễn Hiến Lê

    - Việt Nam Sử Lược, Trần Trọng Kim

    - Bộ sách giáo khoa môn sử học phổ thông của Nhà XB Giáo Dục Việt Nam.

    - Công trình nghiên cứu nguồn gốc chủng tộc dựa vào gen di truyền (DNA) của M. Liu thuộc Mackay Memorial hospital và được Viện Nghiên Cứu Sức Khoẻ quốc gia của Đài Loan tài trợ chứng minh là các giống dân miền Hoa Nam, Việt Nam, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương có liên hệ gen di truyền khác biệt với chủng tộc Hán ở miền bắc.

    -* Sử dụng lại bản đồ của Nhóm nghiên cứu về Bách việt trên mạng internet- Nguồn: nhatnguyen.yolasite.com

    Chú ý: những tên nước trong bản đồ này chỉ mang tính chất tượng trưng; trên thực tế chúng được thay đổi hoặc biến mất trong các thời kỳ lịch sữ khác nhau.
    Theo: http://www.tuanvietnam.net

       1 likes

  18. Bài viết của bác Tâm là nhưng tư liệu tôi đã đọc trên Internet . Dân tộc Bách Việt là có thật và Việt nam bây giờ là một tộc người trong khối đó . Cuốn lịch sử khi Tần thủy Hoàng ra lệnh đốt hết sách thì vẫn có một số ít được cứu và trôi dạt ra Đài loan . Một trong số sách đó có nói : Vua Nghiêu , Thuấn còn cử các hoàng tử công chúa sang du học ở Bách Việt đấy …
    Tiếp Dr Nikonian : Không có dũng tướng nào bên Tàu giỏi hơn , Lý thường Kiệt , Hưng đạo vương Trần quốc Tuấn ,Vua Quang Trung Nguyễn Huệ …
    Tiếc thay , con cháu bây giờ …

       2 likes

  19. Qua nhung bai viet cua Nikonian chung ta nhin thay duoc gia tri cua mot tri thuc lon len tu mien Nam Viet Nam. Ngoai chuyen mon nghe nghiep , chung ta co duc, co hanh va mang theo noi dau khi nhin that mot xa hoi dang di xuong ve dao duc, ve gia tri tinh than

       0 likes

    1. Cảm ơn bạn, nhưng xin bạn đừng quá lời như thế. Tôi chỉ là một người dân bình thường, có chút điều kiện để nói lên suy nghĩ của mình trong trang web nhỏ bé này. Thật may mắn, tôi được sự đồng cảm của nhiều người, trong đó có bạn.

         0 likes

Leave a Reply