Đường đi hay đích đến?

Phàm là dân đi bụi, chắc ai cũng biết câu: “đích đến không quan trọng bằng đường đi”. Quả thực, trên những nẻo đường rong ruổi vừa đi vừa ngẫm nghĩ, càng ngày càng hiểu thêm về sự đúng-sai rất mực nhị nguyên của câu truyền khẩu này.

Đích đến sẽ là tối hậu với dân đường xa mỗi khi ngao du ở một siêu đô thị sầm sập tiếng metro, inh ỏi tiếng xe bus, xe hơi như mắc cửi. Giữa cái đám đông tam khoang tứ đốm trong một biển người xa lạ đó, lòng ta bỗng hoang mang quá đỗi. Ta ngó ngang ngó dọc, ta dở bản đồ, ta bấu lấy cuốn Lonely Planet để không bị lạc đường, không bị mất hút trong cái biển người mênh mông đó. Vì lạc đường là hết, ta sẽ không bao giờ có cơ hội nhìn đêm xuống trên tháp Effeil, hay ngẩng đầu chụp tượng Nữ thần Tự do in bóng trên trời xanh New York. Hay sẽ chẳng dịp nào nữa để nhìn bóng nắng hiu hắt đổ xuống mộ Chopin trong một chiều thu Paris nắng vàng như mật…

Đi bụi nơi xứ người thì đích đến là chung cuộc. Đường đi hay khung cảnh chẳng thân quen là chuyện tầm phào, vì không nhiều lắm những điều mà ta có thể hiểu và yêu mến.

Vậy mà đã có một lần tôi bỏ cuộc, sau nửa ngày leo núi ròng rã trong thung lũng Zion. Hẻm núi hùng vĩ này là niềm mơ ước của bao tay nhiếp ảnh, liều cả sinh mạng chỉ để chụp ánh nắng đứng ngọ ban trưa chiếu thẳng qua khe núi, chỉ một lần duy nhất trong ngày. Như nó vẫn thế trong rất nhiều thiên niên kỷ trước.

Trở ngại cuối cùng sau 25 dặm đường núi cheo leo là một dốc núi trơn trợt, nước chảy xiết và trơn tuột. Nhìn các bạn Mỹ vũ trang đến tận răng với đồ người nhái chống lạnh, ủng cao su, dây đeo bảo hộ…, tôi biết mình không nên tiếp tục chỉ với bộ đồ jeans và cái bal lô nặng trịch sau lưng, nếu không muốn đem máy ảnh về bán ve chai, và… nếu còn muốn toàn mạng để trở ra.

Thế là ngậm ngùi quay về, hối hả ngược đường trước khi mặt trời lặn xuống qua hẻm núi, khi nhiệt độ rơi xuống âm 14 độ trong đêm.

Tấm ảnh chụp hẻm núi Zion năm ấy là của H, bạn cùng đi gan dạ, người đã đặt chân vào hẻm núi Zion không dưới một lần. Và cũng để ghi dấu sự “thất bại mỹ mãn” của tôi trong chuyến ngao du ấy. Đường đi phải chịu thua đích đến, biết sao bây giờ?

Nhưng ở quê mình thì khác, khác lắm!

Vì có lạ lùng gì đâu, những địa danh du lịch của xứ mình. Đã đi, đã đến và…đã chán với ngần ấy nơi chốn. Đó là chưa kể, mỗi lần quay lại là thấy mất đi một chút thuần hậu, hay sự thiên lương cứ méo mó đến mức phải lắc đầu ảo não.

Ngao du ở xứ mình thì phải quên đi đích đến, lấy cái sự thú vị là đường đi, càng vô định càng tốt để lấy sự nhàn nhã, không gì thúc bách làm vui. Và cả lắm điều bất ngờ nữa.

Này, bạn có bất ngờ không? Khi chợ cá Phú Quốc bừng tỉnh sau một ngày. Ánh sáng, màu sắc, thanh âm, và cả mùi nước mắm đậm đặc kia quả sinh động quá chừng, không bút mực nào tả xiết. Chỉ cần ngồi thu lu một góc, nhìn bà con mình xuôi ngược qua cầu phà, nhìn ngư dân vá lưới, nhìn gánh xôi, xe rau, gánh cá… kĩu kịt trước mắt. Lòng ngấm ngầm cảm động khi nghĩ đến sự cần lao và những giọt mồ hôi nhọc nhằn và lương thiện của dân mình, như những gì đang diễn ra trước mắt.

Hóng chuyện bên hàng quà rong
Ảnh: Dr. Nikonian

Cũng bất ngờ không kém, bức tranh điền dã đẹp đẽ với rất nhiều màu sắc đó, như bị hắt vào một thau sơn nhoe nhoét, là tiếng loa phường thô lỗ, hỗn hào xé ngang và đâm thẳng vào tai. Nó ông ổng cực kỳ vô duyên khi rổn rảng bản tin sáng bằng một giọng cục cằn: “Cần làm gì để đối phó với những tin xấu về chứng khoán?” (?).

Loa phường ở chợ cá Dương Đông là một sự bất ngờ khó chịu. Nhưng ngạc nhiên chưa, nơi không có loa phường lại chính là khu hành chính thị trấn, nơi tập trung các cơ quan đầu não. Ở đó, ta tìm được một góc vắng, một cây bàng lưu niên đang đổ bóng và chỉ có tiếng sóng biển ầm ì. Có lẽ, những người thiết đặt hệ thống loa phường trên đảo Phú Quốc là người hiểu rõ hơn ai hết về sự yên tĩnh là một đặc ân. Đặc ân đó, rõ ràng không dành cho những người đang đổ mồ hôi bạc cả vai áo để mưu sinh và hoàn toàn mù tịt về chứng khoán hay các loại “diễn tiến hòa bình”.

Bất ngờ đó- dù sao cũng là một bất ngờ – khoan khoái và dễ chịu.

Trẻ em người Thượng ở nhà thờ gỗ Kontum (Ảnh: Dr. Nikonian)

Nhưng lang thang ở Phú Quốc mà đi tìm sự tĩnh lặng là dại. Như mọi địa điểm du lịch khác, người ta có thể nghe thấy nơi đây vô số thanh âm, ngữ điệu của mọi vùng miền đất nước. Tỷ như chị đàn bà to béo, xăm chân mày rất đậm ở bàn bên cạnh trong một quán ven đường. Chắc bức xúc về công việc đầu tư chi đó, chị oang oang phone về nhà cho cả quán cùng nghe. Mà cuộc điện thoại ấy, dù không muốn nghe trộm, đủ làm cho người trong quán tủm tỉm cười vì chen rất nhiều thán từ “đm, đ,…” Khá vui tai! Và làm sao không khỏi bật cười khi nghe được một câu nguyên văn thế này: “Yên tâm nhé, dân đây hiền lắm, đ. như xứ mình đâu”. Đúng thế, “xứ mình” quả không hiền chút nào, thưa bà chị kiêm nhà đầu tư vào Phú Quốc!

Màu thời gian (Ảnh: Dr. Nikonian)

Ý chừng, để chứng tỏ “dân đây hiền lắm”, chị chủ quán phốp pháp, đen nhẻm với đồ bộ hoa hoè sặc sỡ chợt xoay qua một gã trung niên đầu bạc đang bế con núp mưa ở bàn bên cạnh: “mưa gió dịa mà cha con đi uống cafe cực khổ vậy cà. Đưa em đây, chị bồng cho CƯNG ăn sáng!”

Ôi chao, phải chăng đây là “dịch vụ khách hàng” cực sang, cực trọng nhất mà tôi đã thấy qua bao năm rong ruổi. Có thể nó vụng về, và chẳng thể nào chuyên nghiệp bằng những nụ cười được huấn luyện tới đẳng cấp năm sao. Nhưng nó chứa đầy chữ TÌNH, giản dị, trọn vẹn và viết hoa. Đi đâu để thấy lòng cảm động quá chừng với chữ tình mộc mạc như vậy, ngoài đi trên đất nước nhọc nhằn và nghèo khó của mình?

Vậy đó, nhiều khi ngồi ngẫm nghĩ, tự thấy mình như một con cá đã đi, đã thấy, đã nếm bao nhiêu hương vị ở những vũng nước rất trong. Nơi đó, cuộc sống sung sướng, ổn định, thanh bình. Nơi đó, những con-cá-nước-trong đang tận hưởng những niềm vui vật chất và tinh thần mà chưa chắc cả trăm năm sau, người dân tôi mới được nếm trải. Nhưng cũng nơi chốn đó, lại làm cho một con cá xa nhà nhớ về một vũng nước, tuy chẳng mấy gì trong trẻo, nhưng lại làm lòng ta khắc khoải và thương nhớ vô hạn.

Vì vũng nước đục ấy, ta gọi là quê hương!

Và vũng nước ấy, càng ngày càng đục, thưa các bạn!

41 people like this post.

18 thoughts on “Đường đi hay đích đến?”

  1. Buổi sáng ra đọc được bài này lại thấy chân cẳng không yên :) . Đồng ý với anh, ngẫm lại thấy thương (bao hàm cả tội nghiệp) dân mình (trong đó có em). Cũng là 1 phận người cả thôi mà sao khác nhau quá đỗi.

       3 likes

  2. Chào Bác sĩ,

    Bài nào của Bác sĩ viết, em cũng đọc. Thực lòng không phải thấy kẻ sang bắt quàng làm họ, nhưng em thấy có thấp thoáng của em trong những suy nghĩ của Bác sĩ. Em luôn mong Bác sĩ nhiều sức khỏe để làm việc tốt và … viết tốt để em còn được đọc.

    Chỉ có một góp ý rất nhỏ, nếu Bác sĩ thấy có gì sái quấy thì bỏ qua giúp em. Bài hôm nay em thấy Bác sĩ dùng ‘bus’ và ‘xâm.’ Theo ấn tượng của em, đây là lần đầu tiên bài viết dùng từ ‘ngoại lai’ như ‘bus’ thay vì ‘buýt’ :) Và không rõ em có nhầm không, hẳn ý Bác sĩ phải là ‘xăm’ chứ không phải ‘xâm’ đâu phải không Bác sĩ?

    Trân trọng chào Bác sĩ.

    Nguyen

       0 likes

    1. Điều bạn nói là niềm vui của tôi, một người viết làng nhàng: trong mỗi trang viết của mình, các bạn tôi thấy một phần của mình trong đó. Vậy là vui! Cảm ơn bạn

      PS. Đã sửa ngay từ “Xăm” với lời cảm ơn :)

         0 likes

  3. Tôi đồng ý với bác sỹ, nếm trải hương vị ở những vũng nước trong nhưng vẫn đau đáu nghĩ về quê hương đồng bào. Chị gái tôi bảo tôi rằng “chị mà như dì chị sẽ đi nước ngoài định cư” vì tôi có nhiều cơ hội đi hơn chị. Nhưng có những tâm trạng mà chị tôi không thể hiểu được khi sống ở xứ người. Có lẽ tinh thần dân tộc trong tôi hay tôi quá nặng lòng…. Với tôi, giá trị sống không đơn thuần là cơm ăn áo mặc. Tâm nguyện của tôi cũng như nhiều đồng bào có lương tri khác sẽ không để vũng nước này đục lâu hơn nữa, với tinh thần nhân văn đậm chât Việt Nam của dân tộc mình (như tác giả đã thấy), tôi tin tương lai dân tộc mình sẽ sáng.

       3 likes

  4. Chào anh, đọc bài viết của anh em rất thích.
    Em cũng đang là con cá lang thang ở xứ hoa anh đào. Cũng được nếm hương vị thanh bình, yên ả nước bạn. Nhưng tối qua lắng nghe bài hát “Bên đời hiu quạnh” của Trịnh Công Sơn:
    “lòng thật bình yên mà sao buồn quá, giật mình tỉnh ra ôi! phố xa lạ” và sáng nay đọc bài viết của anh, em càng thấm thía nỗi nhớ về cái ao nhà, tuy chưa trong lắm nhưng nó rất đỗi thân quen và gần gũi phải ko anh :)

       3 likes

  5. Tản văn được viết với một văn phong nhẹ nhàng truyền cảm; chuyển tải được những góc nhìn sâu sắc của tác giả, cũng như truyền được sự rung động đến đồng cảm với người đọc những gì mà tác giả muốn gởi gấm trong từng câu chữ…
    Cám ơn tác giả!
    Tuy nhiên, có 2 đoạn văn này, theo tôi là…cách dùng từ chưa thật…”chính xác và hợp lý”…lắm:
    1/ “…để chụp ánh nắng ĐỨNG NGỌ BAN TRƯA chiếu thẳng qua khe núi, chỉ một lần duy nhất trong ngày…”
    2/ “…Nhìn các bạn Mỹ VŨ TRANG đến tận răng với đồ người nhái chống lạnh, ủng cao su, dây đeo bảo hộ…”

       1 likes

    1. Cảm ơn bác đã chia sẻ và góp ý! Tôi sẽ suy nghĩ để tìm từ khác “chính xác và hợp lý” hơn :-D

         0 likes

  6. “… vũng nước đục ấy, ta gọi là quê hương!”

    Và nó “đục” là bởi vì dân ta “IQ không cao”, “dân trí thấp”, “kém hiểu biết”, “thiếu ý thức”, “ỷ lại”, “hay hối lộ”, … vv … và … vv … nên đã không tích cực “phòng chống tham nhũng”, “phòng chống lũ lụt”, không biết “quy hoạch” dân cư, đường xá, không biết mần ăn đàng hoàng như các tập đoàn nhà nước, không biết “phân biệt ngân hàng tốt xấu” để gửi tiền … mà lại thích “khiếu kiện đất đai”, “đòi hỏi tự do quá trớn”, “biểu tình chống bạn”, nghe lời xúi giục của “các thế lực thù địch” nói xấu chế độ … vv … và … vv … đấy bác ạ !

    Đáng đời dân … !

    Đáng đời cái “vũng nước” “càng ngày càng đục” … !

    Thôi thì, bắt chước cụ Tản Đà “đổ thừa” dân cho “bỏ ghét” :

    CŨNG BỞI THẰNG DÂN NGU QUÁ LỢN
    CHO NÊN QUÂN NÓ DỄ LÀM QUAN !

       4 likes

  7. TỰ TRỌNG CÁI TỰ DO !

    Ngồi viết đau lưng nhức đầu mình bỏ đi cà phê, chẳng ngờ gặp cô bạn thân từ thuở hàn vi. Thân lắm, chuyện gì cũng nói với nhau, kể cả những chuyện kín. Ngồi uống với nhau được 5 phút, cô bạn bảo tao bỏ chồng rồi, mày biết chưa. Mình bảo rồi, nhưng sao lại bỏ? Thằng đó đẹp trai, kiếm tiền được. Trai thời này được như nó cũng hiếm. Cô bạn cười cái hậc, nói tại bộ phận không nhỏ của nó hỏng bố nó 5 năm rồi. Mình cười, nói mày điên lắm. Bây giờ đã có cháu ngoại, thứ đó chỉ có tác dụng giải khuây, có cũng được chẳng có cũng xong, bí lắm mày gọi tao phát là xong, sao đến nổi phải bỏ nó?

    Cô bạn lại cười cái hậc, nói tại nó chứ không phải tại tao. Bộ phận không nhỏ của nó hỏng nhưng nó không chịu thừa nhận. Nó bắt tao chạy chữa thuốc thang tốn tiền tỉ. Đêm nào nó cũng hành tao từ đầu hôm cho đến sáng cốt để chứng minh bộ phận không nhỏ của nó không hỏng. Sở dĩ nó không ngóc đầu lên được là tại tao, tại tao không biết đáp ứng yêu cầu của nó, không biết hưởng ứng cùng nó. Tao đã không động viên nó lại còn tỏ ra xem thường khinh bỉ nó, tóm lại tao hết sức ngu ngốc và vô trách nhiệm…

    Mình nói thì mày cũng phải thông cảm cho tự trọng của nó chứ. Ai không có lòng tự trọng. Cô bạn lập tức vằn mắt lên, nói đó không phải là tự trọng, đó là vô liêm sĩ. Người có tự trọng là khi biết mình hỏng thì xin lỗi và rút lui, chứ không phải điên cuồng chứng mình không hỏng, ra sức dụ dỗ phỉn nịnh, cuối cùng đổ hết tội lỗi cho người ta. Tự trọng kiểu gì lạ thế, tự trọng cái tự do! Tiên sư bố các anh.

    Hi hi hu hu

    Nguyễn Quang Lập

       5 likes

  8. Chào Bác sĩ
    Tôi mấy lần đã vào thăm nhà bác sĩ, nhưng đều gặp bài viết về VG B. Tôi cũng đã đọc rất kỹ bài đó. Thương cảm người đàn bà mắc bệnh, vô vọng, mà vẫn nhẹ nhàng chuẩn bị tâm thế về nước Chúa.

    Hôm nay, đọc bài này
    Là người làm báo, cả đời cũng lăn lộn ở vùng núi, Tây nguyên, đồng bằng sông CL, vậy mà mỗi lần đọc bài của BS viết về các vùng quê, tôi vẫn rất khâm phục. Một cái nhìn nhân văn, quan sát tinh tế, và dân dã thú vị. Hình như dù làm báo, tôi là phụ nữ TP chăng, nên vẫn thiếu cái chất đó. Cái chất “nhìn ra” cái ấn tượng dễ thương, dưới cái vỏ sù sì, thô lỗ…

    Phải gắn bó, yêu mảnh đất Nam bộ lắm, BS mới có được những bài viết, mà tôi thấy, đầy chất thơ.

    Và vì thế, tôi rất cảm động.
    Trước quê hương, trước xứ sở mình, sao mà thương đến vậy, BS à!

       5 likes

    1. Nhận được comment của chị Kỳ Duyên với sự cảm kích, vì cái tình tri ngộ.
      Cảm ơn Chị

         1 likes

  9. BS à. Sao tôi ko thấy BS đề phần “trang chủ”. vì tôi cứ phải mò bên cột đọc Bình luận mới nhất để tìm. :razz:

    Vì tôi ko rõ đường link dẫn đến trang của BS là thê nào. :grin:

    BS ít viết, nhưng số người đọc ko hề ít đâu. Chứng tỏ chất lượng của một Blog.

    Cảm ơn BS

       0 likes

  10. “… Nơi đó, những con-cá-nước-trong đang tận hưởng những niềm vui vật chất và tinh thần mà chưa chắc cả trăm năm sau, người dân tôi mới được nếm trải. Nhưng cũng nơi chốn đó, lại làm cho một con cá xa nhà nhớ về một vũng nước, tuy chẳng mấy gì trong trẻo, nhưng lại làm lòng ta khắc khoải và thương nhớ vô hạn.

    Vì vũng nước đục ấy, ta gọi là quê hương!”

    Cám ơn BS đã cho một người đang muốn phát điên như mình một liều thuốc cần thiết để mà tĩnh tâm…

       0 likes

    1. Cảm ơn bác! Em cũng đang muốn điên đây, bác ạ! Ngày càng chịu không nổi…

         1 likes

  11. LAN MAN – 5

    Đi thực tế ở Tây Nguyên, lặn lội vào các buôn làng heo hút, tôi không khỏi chạnh lòng vì tình trạng rệu rã của “Miền Đất Huyền Ảo” ( chữ của Nhà Dân Tộc Học – Linh Mục – Dam Bo Jacques Dournes ) ! …

    Nhớ xưa, Mã Viện sau khi đánh bại Hai Bà Trưng và thôn tính Lĩnh Nam, theo Hậu Hán Thư : “Viện (Mã Viện) điều tấu Việt luật cùng Hán luật, sai hơn 10 việc, bèn cùng người Việt nói rõ để ước thúc”. Do đó, việc cai trị Giao Chỉ dù sao cũng được dựa vào sự “ước thúc” trên cơ sở “nói rõ” về những điều cần dung hòa giữa “Hán luật” và “Việt Luật”. Xã hội Công xã Thị tộc vẫn không bị phá vỡ, các Tộc trưởng, Thổ hào và Hào trưởng vẫn còn giữ được uy thế nhất định trong phạm vi lãnh thổ và quyền lực của mình, làm tiền đề về võ lực và văn hóa cho những cuộc khởi nghĩa giành độc lập tự chủ sau này … Dân ta có câu : Phép vua thua lệ làng ! …

    Người Pháp trước khi tiến hành công cuộc “thực dân”, đã đưa các nhà thám hiểm lên nghiên cứu trước về địa lý, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của các dân tộc thiểu số, nhằm hoạch định chính sách, để, thứ nhất, ít vấp phải sự phản kháng ; thứ hai, bảo tồn văn hóa bản địa. Sự cai trị trên Xứ Thượng dựa trên một hệ thống luật pháp được pha trộn, dung hòa giữa luật pháp chung của nhà nước phong kiến – thuộc địa và các luật tục bản địa … Nội bộ buôn làng hầu như vẫn ở trong trạng thái tự trị … Nền văn minh còn trong tình trạng bán khai của các dân tộc thiểu số vẫn âm ỉ tồn tại trước nền văn minh cơ khí hiện đại của phương Tây, dù khoảng cách là quá xa, khó thể lấp bằng …

    Ngày nay, sự quản lý bằng luật pháp chung của nhà nước đã khiến cho các luật tục truyền thống Tây Nguyên bị xáo trộn, đặt xã hội và con người Tây Nguyên trước nguy cơ đổ vỡ do tình trạng mâu thuẩn gay gắt giữa “truyền thống” và “phát triển” … Ngoài ra, “cơn lũ” di dân thiếu kiểm soát đã khiến cho nền văn hóa thuần phác sơ khai bản địa bị “bức tử” bởi cái “văn hóa con buôn” lọc lừa và gian lận của bao lớp người tứ xứ tràn ngập … Đất đai nương rẫy vốn được sở hữu linh động dựa trên nền nông nghiệp “luân canh luân cư” dần rơi vào tay những người miền xuôi nhiều thủ đoạn. Những “linh vật” cồng chiêng, những “quý vật” chum chóe trở thành vật trao đổi bọt bèo với mấy loại hàng hóa thấp kém rẻ tiền của miền xuôi. Nền Văn Hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên, cũng như một số loại hình Văn Hóa Phi Lập Thể khác như Khan, Xoang có nguy cơ mai một do mất môi trường diễn xướng là đại ngàn hùng vĩ thâm u và truyền thống tâm linh “vạn vật hữu thần” Yang, Atau …

    Chợt nghĩ, và so sánh đến người Kinh, khi đã có một trình độ văn minh tương đối phát triển, mà vẫn phải lâm vào những hoàn cảnh tương tự, khi “hiện đại” thách thức “truyền thống” !

    Những làng nghề truyền thống tranh Đông Hồ, Hàng Trống, Làng Sình, … bị lấn át bởi những ảnh bìa tạp chí, tranh in, máy ảnh “digital”, … hiện đại … ; những làng nghề truyền thống hoa Ngọc Hà, đào Nhật Tân, rượu Làng Vân, rượu Làng Chuồn, hoa Gò Vấp, kiểng Cái Mơn, … bị lấn át bởi hoa nhựa, hoa giấy, hoa đất, rượu công nghiệp, … bởi bê tông đô thị hiện đại … và … dần tan rã, thất truyền … ! …

    Những hội làng truyền thống Quan Họ, Trống Quân, Bài Chòi, Hát Bội, Cải Lương, … ; những hát Đối Đáp, Giao Duyên truyền thống, Xẫm, Xoan, Đúm, Ghẹo, Hò, … bị lấn át bởi những “nhạc sống”, “karaoke”, “video”, “compact disc”, … hiện đại, và … cứ dần chìm vào quên lãng …

    Xã hội đổi thay … các giá trị cũng đổi thay … nhu cầu cũng đổi thay …

    Người Xứ Thượng đã đem những cồng chiêng chum chóe, từng một thời là biểu tượng của “Thần Quyền” nguyên thủy, làm nên “đẳng cấp” cho mỗi cá nhân, dòng tộc trong xã hội Tây Nguyên, chỉ được sử dụng trong những dịp, nghi lễ trọng đại, để đổi lấy những thau xô ấm chén cho những sinh hoạt hàng ngày …

    Thâm nhập vào các buôn làng heo hút, bốn không : điện, đường, trường, trạm, gần như tách biệt với thế giới bên ngoài … thấy trẻ con, và cả người lớn, người già, không hề biết đến những “món quà xa xỉ” của cuộc sống hiện đại như bánh Snack, Hamburger, gà rán Kentucky, … vv … nên họ không thể có sự thèm muốn … Trẻ con ở đó, với cái bụng thè lè …, họa hoằn, chỉ có thể thỏa mãn sự thèm ngọt của mình bằng những viên đường tán đen xì, còn lẫn nhiều rơm rạ …, hay những viên kẹo xanh đỏ rẻ tiền …, có được nhờ đi mót phân bò đổi cho con buôn người Kinh, với một sự trao đổi, mua bán rất rẻ mạt và bất bình đẳng …, chúng dường như không có nhu cầu về sự bình đẳng !

    Họ không có “nhu cầu” …, vì không hề biết là “có” … ! …

    Cũng như người ta không có “nhu cầu”, và “yêu cầu”, về “Tự Do”, “Dân Chủ”, “Nhân Quyền”, … khi không hề biết là “có” … ! … Và “có” như thế nào, “yêu cầu” ở mức độ nào, “nhu cầu” ấy cần thiết đến đâu … !? … Như một “đứa trẻ” ( người dân tộc thiểu số ) biết vui và cảm ơn “người lớn” ( người Kinh ) vì nó được thưởng cho một viên đường tán để đổi lấy một bao phân bò, công sức của một ngày đi mót … mà không hề biết là lẽ ra nó xứng đáng được ba viên, năm viên, hay mười viên, hai mươi viên …, hoàn toàn tùy thuộc vào sự “rộng lượng”, “thương hại”, “ban phát”, “xin – cho” … của “người lớn” …

    Như ở Bắc Triều Tiên, không điện thoại di động, không internet, 2/3 thời lượng TV dùng để ca ngợi lãnh tụ, … người dân sẽ biết được là đang “có” điều gì, “nhu cầu” của mình là gì … !? … Để mà “yêu cầu” … !? …

    Như ở Việt Nam, thông qua quốc hội “đảng cử dân bầu”, báo chí “phải tạo ra sự đồn thuận”, internet “tường lửa”, … người dân sẽ biết gì về bauxite, về thủy điện, về điện hạt nhân, … để mà “yêu cầu” … !? …

    Ở chế độ Chiếm Hữu Nô Lệ thì “Phụng Mệnh Hành Sự, Thân Bất Do Kỷ” là “Chân Lý”, là “giá trị”, là “nhu cầu” … Cái “Dũng” của Kinh Kha, “Phong Tiêu Tiêu … Hề … Dịch Thủy Hàn / Tráng Sĩ Nhất Khứ … Hề … Bất Phục Hoàn”, cho đến nay vẫn còn được truyền tụng … Nhưng nếu lấy cái “Chân Lý” thời nay để xét thì sẽ như thế nào … !? …

    Ở chế độ Phong Kiến thì “Trung Quân – Ái Quốc” là “Chân Lý”, là “giá trị”, là “nhu cầu” … Cái “Trung” của Lý Trần Quán đối với chúa Đoan Nam Vương ; của Lê Quýnh đối với vua Lê Chiêu Thống ; của Võ Tánh, Ngô Tùng Châu đối với chúa Nguyễn Ánh ; của Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân đối với vua Quang Trung ; của Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản đối với vua Tự Đức, … cho đến nay vẫn còn làm cảm động lòng người … Nhưng … !? …

    Xã hội đổi thay … các “giá trị” cũng đổi thay … “nhu cầu” cũng đổi thay …

    Thời nay, xã hội đổi thay, quan niệm về “Chân Lý” rộng mở … Những Tôn Thất Thuyết, Hoàng Cao Khải, Tôn Thọ Tường, Phan Văn Trị, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Phạm Hồng Thái, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Trần Trọng Kim, Phạm Quỳnh, Bảo Đại, Ngô Đình Diệm, Hồ Chí Minh, Lý Tự Trong, Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi, Võ Nguyên Giáp, Trần Văn Trà, Nguyễn Khoa Nam, Lê Duẫn, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Thị Định, Dương Văn Minh, … vv … sẽ như thế nào … !? …

    Lịch Sử sinh động quá, khách quan quá, “bất nhân” quá … ( Thiên Địa Bất Nhân Dĩ Vạn Vật Như Sô Cẩu ) …

       0 likes

Leave a Reply