Category Archives: Chopin

Phút lâm chung của Chopin

Lời giới thiệu: Chưa bao giờ, tôi đọc đựơc những dòng đẹp đẽ như thế này về Chopin, ngừơi nhạc sĩ mà tôi yêu mến. Nó đựơc viết ra bởi Lizst, ngừơi bạn thiết của Chopin và đựơc chuyển ngữ tiếng Việt bởi một dịch giả uyên bác, nghiêm túc và uyên thâm.

Đưa về blog này, với lời cảm ơn chân thành với Chopin, Lizst và dịch giả Nguyễn Đình Đăng Read more »

1 person likes this post.

Chopin, khuôn mặt tình yêu bất tuyệt

Hình bìa CD Concerto số 1 của Krystian Zimerman

Tặng Nguyễn Hoàng Minh

Tuân Nguyễn, người mà cuộc đời nhục nhằn và bi thảm qua lời kể của Phùng Quán, đã viết những câu thơ thế này trong những năm chiến tranh ở miền Bắc: Read more »

6 people like this post.

Paris, âm nhạc và Chopin

“Nhạc cổ điển của “tụi hắn” làm hoa cỏ đơm bông kết trái, trẻ nhỏ thêm thông minh, cây cối đâm chồi nảy lộc. Nhạc chi mà lạ lùng rứa hè?”[1]

___________________________________________________________

Trong ký ức tuổi thơ mịt mù của tôi, chẳng thể nào quên được những bài học âm nhạc đầu đời mà thầy tôi, một người có tâm hồn trong sạch như nước suối đã truyền thụ. Thứ âm nhạc của những bậc thầy cổ điển như Bach, Mozart, Mendelssohn, Scarlatti,… mà thầy tôi đã gieo vào lòng trẻ thơ thuở đó, là những âm thanh thuần khiết, êm đềm nhất đã nuôi dưỡng trong tôi tình yêu âm nhạc và lòng ngưỡng mộ với hòa âm êm ái, tiết điệu du dương, giai điệu nhịp nhàng, niêm luật chặt chẽ! Đó là những gì mà đầu óc non nớt của tôi biết về âm nhạc trong những tháng ngày xa xưa đó!

Cho đến một ngày… Read more »

13 people like this post.

Đốn ngộ

“Không ai có thể tắm 2 lần trên một dòng sông


(Hermann Hesse – câu chuyện của dòng sông)

————————————————————————————-

Hắn yêu âm nhạc vô cùng. Số phận long đong và nhiều biến động, hắn chẳng trở thành nghệ sĩ dương cầm như mong ước. Nhưng chằng sao, hắn vẫn mày mò, cạy cục tập đàn mỗi đêm. Không được làm cầm thủ pianist, thì làm người chơi dương cầm (piano player) cũng đã khinh khoái lắm rồi! Rất mực AQ, hắn nghĩ thế!

Của đáng tội, hắn biết rõ mình tài hèn sức mọn. Tay chân cứng quèo, vì có bao giờ tập xong những bài chạy ngón, luyện cho tay chân mềm mại, linh hoạt như những ngưởi chuyên nghiệp bao giờ! Cho nên, trước những lời yêu cầu của bạn bè, hắn chỉ cười trừ, lảng tránh. Chỉ trong những cuộc rượu ngà ngà, hắn mới đánh bạo ngồi vào đàn, bấm lăn tăn vài trích đoạn, vụng về, lỗi nhịp, rồi ngượng ngịu đứng lên. Ra chừng ta đây có lỗi vì đã thết bạn bè những âm thanh khốn khổ.

Cho đến một ngày, lang thang trên mạng, hắn tìm được những đường link quí giá hơn vàng. Những đường link dẫn đến những CD bất tử của các bậc danh cầm. Hắn hối hả download suốt ngày đêm, chép ra cả trăm chiếc CD óng ả. Chúng vang lên, ngập tràn căn phòng nhỏ của hắn những giai điệu thanh khiết, không một tạp âm từ những chiếc Steinway and sons đắt giá. Ngày lại ngày, hắn lặng nghe, ngẫm nghĩ, đắm chìm mình trong những tiếng đàn không gì sánh nổi và đầy mê hoặc đó. Lòng ngấm ngầm kinh sợ, cái nội lực vô song từ những tiếng đàn bậc thầy đó.

Khi đã thấy núi Thái sơn, tự biết mình mãi mãi là gò đống lè tè, hắn đi đến một quyết định mà truyện kiếm hiệp gọi là “phế bỏ võ công”, quyết không đụng đến đàn “nhà” nữa. Bạn hắn nghe tin, nhếch mép cười khẩy: “bì thế nào được với người ta!” Hắn chẳng vì thế mà phật lòng. Bạn hắn nói đúng, không thể nào bì được với những người đã đổ mồ hôi trên phím đàn 12 giờ mỗi ngày, suốt cả cuộc đời. Nhưng cái điều là, đã nghe, đã gột rửa trong những tiếng đàn trác tuyệt đó, đã là một niềm hạnh ngộ và sung sướng tột đỉnh. Làm sao hắn có thể sung sướng, cảm xúc với tiếng đàn vụng về, thô lậu của mình được? Mà không sướng, thì ngồi vào đàn làm gì cho nhọc? Chi bằng, tắt hết đèn, đặt một CD vào máy, rồi để lòng lặng thinh trong bóng tối…

Nhiều đêm đã trôi qua như thế. Đã 2 tháng ròng, hắn thờ ơ, chẳng chạm vào đàn…

Cho đến một ngày nghỉ, trời xanh oi ả, mây trắng vần vũ bay, hắn ốm nằm nhà. Cái giống virus cúm thật là tệ hại. Nó làm ta đau nhức, hom hem như già đi hàng chục tuổi. Nó làm lòng ta buồn bã, buồn như chó ốm, thờ ơ với mọi thứ chết tiệt trên đời. Chẳng có việc gì làm, mà cũng chẳng muốn làm gì với đống sách vở bề bộn, hắn lại ngồi trước đàn, lơ đãng bấm thử vài hợp âm quen thuộc. Chao ôi, cái cảm giác thân quen khi chạm khẽ vào những phím đàn đầy bụi thật lạ lùng. Nó làm hắn run rẩy, chấn động tâm can, nó chảy vào lòng một tiếng thì thầm rất nhẹ và dịu dàng: đàn đi, hãy đàn đi! Chỉ trong phút chốc, gạt phăng những mặc cảm cố hữu, hắn đàn mê mải, như thể ngày mai hắn chết. Mà lạ lùng thay, các ngón tay không hề được luyện tập của hắn sau 2 tháng ròng, lại mềm mại và uyển chuyển khác thường. Dưới những ngón tay thô lậu đó, quên cả cơn sốt lập cập, Consolidation của Lizst chảy tràn như suối, nhẹ nhàng như môi hôn lần đầu. Rồi valse số 7 của Chopin, dịu dàng, đắm đuối, vang lên mê mải. Đoạn cadenza cực khó của Scherzo số 3 cả đời trật vuột, hắn chơi như thể có Afred Cortot nhập hồn, thong thả, cuồn cuộn như nước chảy mây trôi. Như thể Lizst tóc bạc phơ với chiếc mũi khoằm nghiêm nghị, đang thân ái đặt tay lên vai hắn. Như thể Chopin với đôi mắt sâu thẳm, đang chống cằm tư lự kề bên.

Lần đầu trong đời, hắn chạm đến cái đẹp đẽ tuyệt đối, vĩnh cửu và tan chảy mình trong cái thanh khiết vô ngôn của âm nhạc. Mặc cho tiếng rè rè hỗn hào của chiếc quạt máy. Mặc cho tiếng ríu rít nghịch ngợm của lũ chim sẻ trên bậu cửa. Mặc cho mây trắng vẫn vần vũ bay.

Phút hạnh ngộ ngắn ngủi qua đi nhanh chóng. Hắn buông đàn, mồ hôi ướt áo, kiệt lực, rỗng không và nghe âm nhạc lịm tắt dần trong tâm tưởng.Ngày mai, hắn biết rõ, hắn lại vụng về mổ phím, như thể chưa hề có một lần bay bổng.

Ngoài kia, mây trắng vẫn bay…

Be the first to like.

Paris, âm nhạc và Chopin

“Nhạc cổ điển của “tụi hắn” làm hoa cỏ đơm bông kết trái, trẻ nhỏ thêm thông minh, cây cối đâm chồi nảy lộc. Nhạc chi mà lạ lùng rứa hè?”[1]

Trong ký ức tuổi thơ mịt mù của tôi, chẳng thể nào quên được những bài học âm nhạc đầu đời mà thầy tôi, một người có tâm hồn trong sạch như nước suối đã truyền thụ. Thứ âm nhạc của những bậc thầy cổ điển như Bach, Mozart, Mendelssohn, Scarlatti,… mà thầy tôi đã gieo vào lòng trẻ thơ thuở đó, là những âm thanh thuần khiết, êm đềm nhất đã nuôi dưỡng trong tôi tình yêu âm nhạc và lòng ngưỡng mộ với hòa âm êm ái, tiết điệu du dương, giai điệu nhịp nhàng, niêm luật chặt chẽ! Đó là những gì mà đầu óc non nớt của tôi biết về âm nhạc trong những tháng ngày xa xưa đó!

Cho đến một ngày…

Ngày đó, trường Y có một thói quen rất hay ho, chẳng biết giờ có còn hay không? Là mở nhạc cổ điển của đài FM trên loa phóng thanh trước giờ vào học. Trưa hè nắng như đổ lửa, rảo bước vào giảng đường, một giai điệu vang lên, lấp lánh, long lanh như ngọc… Cái giai điệu lạ lùng, lúc khoan lúc nhặt, tưởng như không có một qui luật nào cả, đã làm tôi sững người lại trong phút chốc, lắng nghe, ngẫm nghĩ mà vẫn không tài nào hiểu được cái qui luật của chùm âm thanh tuyệt đẹp đó, như đã từng được thầy tôi giảng giải về các niêm luật hòa âm hay tiết điệu.

Cho đến ngày tôi gặp Vũ, gã pianist lãng tử với chiếc Rebel cà tàng, tóc xõa bay trong gió. Vũ đàn cho tôi nghe những giai điệu đó, mặt tái xanh như chàm đổ, nghiêm trang như đang hành lễ, trầm ngâm như hiền triết…Vũ dốc cạn mình trong những Marche Funèbre, Fantaisie Impromtu, Valse L’Adieu, Polonaise, Mazurka…Những buổi chiều xưa cũ đó, Vũ đã chỉ cho tôi thấy một thứ âm nhạc khác, vượt lên trên những giai điệu cân đối, êm ái mà tôi đã được dạy dỗ. Một âm nhạc không kém phần chặt chẽ, qui tắc nhưng khoáng đạt và tinh tế vô song!

Âm nhạc của Chopin!

Điều lạ lùng là cho đến giữa thế kỷ 19, Paris mới thật sự tỏa sáng như một thủ đô âm nhạc. Đến lúc ấy, kinh thành ánh sáng mới là nơi hội tụ của nhiều thiên tài âm nhạc. Rossini, Liszt, Wagner, Offenbach, Saint Saens, Fauré, Ravel, Debussy… Trong những cái tên bất tử đó, không thiếu những di dân, mang âm nhạc của họ đến tô điểm cho Paris hoa lệ. Mái đầu xanh của chàng trai Chopin, người con mang hai dòng máu Ba lan và Pháp, đã tung bay dưới bầu trời Paris thưở đó. Dưới đôi tay tài hoa của người nghệ sĩ, những Nocturne, Polonaise, Berceuse…đã vang lên đầy mê hoặc trong các thính phòng, đến nỗi hậu thế phải tôn vinh Chopin là người đã “đội vương miện cho cây piano” khệnh khạng. Cây đàn to lớn dềnh dàng, nặng hàng trăm ký, với 88 phím đen trắng đan xen, với lực căng dây lên đến 52 tấn! Một nhạc cụ mà khi chạm tay lên phím đàn, phải truyền dẫn qua 25 cơ phận mới nghe thấy âm thanh. Làm sao một nhạc cụ to lớn, dềnh dàng như vậy có thể hát lên những cung bậc của tình cảm con người một cách tinh tế và đầy thấu cảm đến như vậy? Nếu không có Chopin, người được Lizst[2] xưng tụng là “nhà thơ của piano”!

Phần đóng góp của Chopin cho đàn piano thì vô cùng lớn lao và quá tầm hiểu biết của tôi. Nhưng trước hết, không thể không kể đến Chopin là cha đẻ của thể loại Nocturne (Dạ khúc hay nhạc đêm). Thật ra, John Field, một nhạc sĩ người Ireland đã khai sinh thể loại này từ lâu. Nhưngvới Chopin, thể loại này mới thật sự tỏa sáng, cây piano mới thực sự vang lên nhưng giai điệu đêm, huyền ảo và tinh tế lạ thường. Vi diệu đến mức, khi lò mò tìm được một cuốn sách trên mạng dạy chơi Chopin, tôi đọc được những chỉ dẫn đại để như thế này:

“Hãy chọn một đêm hè, trăng khuyết, ngồi dưới một khóm tử đinh hương, hít thở cái không khí tịch mịch và ngát hương đó, nghe tiếng họa mi thổn thức giữa đêm thâu, tắm mình trong ánh trăng non thượng tuần…, rồi hãy chơi hay lắng nghe bản Nocturne cung Đô thăng thứ bất hủ của Chopin”

Có loại âm nhạc nào đòi hỏi sự lắng đọng và thăng hoa của tâm hồn như thế không?

Cuộc sống tình cảm đầy sóng gió của người nhạc sĩ tài hoa, mối tình bão tố và đầy u uẩn với George Sand, hậu thế đã tốn nhiều giấy mực. George Sand, người phụ nữ lớn hơn Chopin 6 tuổi, viết tiểu thuyết, mặc trang phục đàn ông, hút thuốc bằng tẩu, bạn tình của Prosper Mérimée[3], Alfred de Musset[4]. Và có lẽ còn là kẻ đồng tính luyến ái, qua mối quan hệ với nữ diễn viên Marie Dorval. Chính người phụ nữ phóng túng này đã chủ động chinh phục Chopin để trải qua 4 năm chung sống ở lâu đài Nohant của mình. Trong những năm tháng đó, một phần lớn âm nhạc của Chopin đã nở hoa, như một kết quả tất yếu của một mối tình thơ mộng và đầy sóng gió. Từ chiếc piano hiệu Pleyel của Chopin ở Nohant, đã vang lên những giai điệu u buồn, thơ mộng đến nao lòng . Cái tố chất melancholic u buồn đầy tao nhã của bậc thiên tài đã ghi dấu lại trên những kỹ thuật mà người chơi piano nào cũng phải lè lưỡi lắc đầu. Những đoạn appregio khoáng đạt, lả lướt bằng tay trái, những khúc prestisimo, cadenza lấp lánh như pha lê và cực kỳ khó bằng tay phải, những luyến láy hay tremolo sang trọng, những thời điểm đạp pedale để giữ độ ngân của âm thanh cực kỳ chính xác và hợp lý. Tất cả những kỹ thuật đó, dễ dàng làm nản lòng bất cứ người nào ngồi trước piano. Nhưng chưa hẳn thuộc được, chơi chính xác là xong. Còn phải biết rubato, chơi sao cho ngập ngừng mà không ẻo lả, lúc khoan lúc nhặt nữa. Chính cái tiết điệu tempo rubato, ngập ngừng khẽ khàng đầy vi diệu này làm nên chất thơ tuyệt diệu không gì sánh nổi của Chopin. Cũng chính cái giai điệu khi như khựng vấp lại, khi thoảng nhanh như gió, tưởng chừng như phá hỏng những qui luật về tiết điệu, đã làm nên sự khác biệt giữa các danh cầm và với kẻ tập tành. Nhiều khi, thuộc lòng từng nốt, chơi không sai một giai điệu, nhưng chơi rubato không xuất thần, âm nhạc Chopin bị biến dạng ghê gớm, giật cục, máy móc không thể tưởng được. Ngược lại, với bàn tay thần kỳ và cảm thụ âm nhạc tinh tế của các danh cầm, cái kỹ thuật khó khăn đó lại long lanh và tỏa sáng hết vẻ đẹp vô song của nó. Tôi không tả được, không diễn đạt được vẻ đẹp thanh nhã và cao quí của âm nhạc Chopin, chỉ biết rằng nó tắm gội lòng ta, nó dẫn ta về một nơi chốn thanh khiết, u sầu nhưng không bi lụy, cuồng nhiệt và đắm say nhưng không buông thả. Nó dẫn ta đến những cung bậc tình cảm rất lạ lùng mà tưởng chứng trước giờ ta chưa bao giờ biết tới. Nó “làm tan vỡ lòng ta” trong những “đêm mờ trăng úa” như trong Nguyệt cầm bất hủ của Cung Tiến.

Trong một buổi chiều hè lang thang, tôi lại nghe văng vẳng một giai điệu Chopin từ một góc phố Paris, vụng về, lỗi nhịp, có lẽ từ một người mới tập, nhưng không hề thấy khó chịu. Ai cũng có quyền yêu và chơi Chopin theo cách của mình phải không? Không phải ngày một ngày hai, có thể diễn đạt được cái đẹp và sự tinh tế vô song đó. Thế nên, Vladimir Askhenazy, danh cầm người Nga, phải bỏ công làm một bộ 25 CD study work cho lũ hậu sinh tập tành nghiên cứu.

Cũng trong một buổi café với anh T., một nhà báo được nhiều người yêu mến và kính trọng, tôi đã được nghe một sự so sánh ngộ nghĩnh đầy thú vị. Trong phút cao hứng, anh T. cho rằng cái sự đi Trung Quốc thì giống như về quê nội, vì nó thâm nghiêm, kín cổng cao tường. Sự đi Mỹ thì giống như qua chơi với thằng bạn nhà giàu, xa hoa, tráng lệ, nhưng vẫn cảm thấy xa lạ, nhàn nhạt. Chỉ khi đi Pháp, mới có cảm giác thân thuộc khi về ngoại, thoải mái và dễ dàng. Lời anh T quả tình là chí lý, vì Paris nơi tôi đến, có một địa chỉ vô cùng thân thuộc!

Thế nên, trong lần quay lại Paris năm rồi, tôi đã hăm hở nhảy metro, lò mò đến nghĩa trang Père Lachaise, nơi người nhạc sĩ tôi yêu mến yên nghỉ. Như Montparnasse, Père Lachaise là một nghĩa trang rộng mênh mông, rợp bóng cây và lọt thỏm yên ả giữa lòng Paris náo nhiệt, nơi yên nghỉ của vô số danh nhân. Chỉ cần bước vào, đã thấy lòng thanh tĩnh lạ lùng giữa trùng điệp mộ chí rêu phong nhưng không kém phần mỹ thuật. Thời gian như dừng lại ở đây, chỉ có tiếng lá rơi, gió xào xạc, thoảng chút tiếng ve sầu mùa hạ. Thời gian cho tôi 3 tiếng đồng hồ để lần tìm đến một ngôi mộ bằng đá hoa cương trắng, có tượng thiên thần bên trên và một bức chân dung bằng cẩm thạch. Ngôi mộ không bao giờ vắng hoa tươi, kể cả trong những ngày đông tháng giá khắc nghiệt, là nơi an nghỉ của Chopin. Nơi chốn này, mọi âm thanh đều bị xóa nhòa, kể cả tiếng lá rơi nhẹ như hơi thở. Chỉ có những giai điệu của bậc thiên tài cứ mãi vang lên trong tâm tưởng. Lần chần hồi lâu, tôi thấy bao nhiêu khách thập phương đủ mọi màu da cũng đến, cũng nhẹ nhàng đặt một nhành hoa với vẻ thành kính. Có đi đến chốn này, mới thấy, mới hiểu Chopin đã và đang sống mãi với người yêu nhạc như thế nào.

Nhưng điều cảm động nhất, trước lúc ra về, tôi nghe một lời chào khẽ khàng từ một cô tây ba lô đỏ au rám nắng: “Salut, Chopin”! Tự dưng, tận đáy lòng một gã lữ khách da vàng cũng thì thầm bật lên một câu chào, ngập tràn yêu mến và ngưỡng mộ: “Salut, mon Chopin!” [5]

Trước giờ lâm chung vì bệnh lao phổi, Jean Baptist Clesinger, một nhà điêu khắc đã đổ khuôn bàn tay và khuôn mặt của người nghệ sĩ thiên tài để lưu giữ cho hậu thế. Quả tim Chopin, nơi bắt nguồn của những bản Polonaise da diết lòng thương nguồn nhớ cội, được mang về Ba lan, quê hương bản quán của người nhạc sĩ tài hoa. Sẽ có một ngày, tôi ao ước được dừng chân ở nhà thờ Kościół Świętego Krzyża, nơi yên nghỉ của quả tim vĩ đại đó, để nghiêng mình và chiêm ngắm một thánh tích âm nhạc.

Chopin của tôi, vì tuổi hoa niên và tình yêu âm nhạc trong tôi đã được nuôi dưỡng từ trái tim nhạy cảm và rất đỗi dịu dàng đó!

_________________________________________________________________________________________

[1] Lời anh Tám, một nông dân mà tôi được cùng đối ẩm trong một đêm trăng ở Qui nhơn

[2] Franz Liszt. Nhạc sĩ dương cầm người Hungary, bạn thân của Chopin

[3] Prosper Mérimée. Nhà văn Pháp, tác giả của tiểu thuyết Carmen nổi tiếng, là cảm hứng cho vở nhạc kịch cùng tên của Bizet

[4] Alfred de Musset. Nhà văn Pháp mang bệnh tim. Một tiếng thổi bệnh lý trong tim mạch học đã được mang tên ông.

[5] Xin chào, Chopin của tôi!

2 people like this post.